Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

Các học thuyết thương mại quốc tế, p1

Chủ nghĩa trọng thương


Stafford: chủ trương chỉ có xuất mà không có nhập khẩu, có các quan điểm thương mại chủ yếu sau:

  • Đề nghị cấm nhập khẩu hàng xa xỉ, thu hẹp tiêu dùng hàng nước ngoài, chống sự tiêu xài xa xỉ, cấm xuất khẩu nhiên liệu mà sau đó tái chế biến để nhập lại vào nước anh
  • Những thương nhân nước ngoài mua hàng nước Anh đều phải dùng đồng bảng, tiền của Anh.
T. Mun: khác với Stafford, ông cho rằng:
  • Việc tạo thêm của cải (tiền) cho Anh quốc không chỉ bằng cách cấm xuất khẩu chúng mà còn bằng ngoại thương tích cực: tăng giá trị xuất khẩu so với nhập khẩu H – T – H’ (H>H’): xuất khẩu hàng hoá H, bán lấy tiền T và nhập khẩu (mua hàng hoá khác của nước ngoài) H’, nhưng H’<H thì vẫn có lợi
  • Sẵn sàng xuất khẩu tiền nếu nó đảm bảo cho việc tăng lên của lợi nhuận thương nghiệp T – H – T’ (T<T’), xuất khẩu (dùng) tiền T mua hàng hoá H của nước ngoài sau đó gia công hoặc bán lại cho nước khác và thu lại số tiền là T’ và T’>T thì vẫn có lợi
  • Vẫn ủng hộ chế độ thuế quan bảo hộ mậu dịch nhưng cần giảm thuế xuất khẩu đối với những hàng hoá trong nước sản xuất
Nói chung, chính sách của chủ nghĩa trọng thương là trong ngoại thương nước này được thì nước khác phải bị thiệt
Chủ nghĩa trọng nông
Trái ngược với trọng thương khi cho rằng cần phải bãi bỏ thuế quan và cho tự do mậu dịch, tự do xuất khẩu hàng nông sản ra nước ngoài để bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp tự sản trong nông nghiệp, nhưng vẫn đánh thuế vào giai cấp địa chủ.
— CÒN TIẾP —

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2011

Bốn người vợ của nhà vua


Ngày xửa ngày xưa, có một vị vua giàu có trị vì một vương quốc hùng mạnh. Ông có đến bốn người vợ, bà hoàng nào cũng xinh đẹp. Nhà vua yêu người vợ thứ tư nhất và luôn chiều theo mọi sở thích của bà, không bao giờ từ chối. Kế đến là người vợ thứ ba, nhà vua lúc nào cũng sợ mất bà, đi đâu cũng luôn muốn đưa bà đi theo. Bà vợ thứ hai là chỗ dựa tinh thần của nhà vua, bà rất tử tế, dịu dàng và kiên nhẫn. Mỗi khi nhà vua gặp chuyện khó khăn, ông thường tâm sự với bà và thường nhận được những lời khuyên quý giá.

Người vợ thứ nhất của vua là người trung thành nhất, giúp vua trị vì và làm cho đất nước ngày càng giàu có nhưng nhà vua lại không dành nhiều tình cảm cho bà. Nhà vua luôn nghĩ rằng bà có thể tự chăm sóc lấy mình nên ít khi để ý đến bà.

Không may, một ngày nọ vua lâm bệnh và biết rằng mình không còn sống được bao lâu nữa. Ông nghĩ: "Ta có đến bốn người vợ, nhưng khi ra đi, e rằng lại hoàn toàn cô đơn!".

Nghĩ vậy, nhà vua gọi người vợ thứ tư đến bên cạnh và nói: "Ta yêu thương nàng nhất, luôn dành mọi thứ tốt đẹp cho nàng. Giờ đây ta sắp chết, nàng có theo ta để ta không cô đơn không?". Nhà vua nhận được câu trả lời: "Bệ hạ rất tốt với thiếp, nhưng yêu cầu đó quá khó, thiếp không thể làm được!". Nhà vua lặng đi một lúc rồi cho gọi người vợ thứ ba, bà trả lời: "Không, thưa đức vua, cuộc sống còn đẹp lắm, sẽ có một vị vua khác đến để tiếp tục che chở và chiều chuộng thiếp!". Trái tim vị vua cảm thấy lạnh buốt vì buồn bã và thất vọng. Ngài lại gọi người vợ thứ hai: "Ta luôn được nàng giúp đỡ và khuyên giải, nàng sẽ theo ta chứ?" - Nhà vua hỏi. "Lần này thiếp không thể giúp được gì hơn, thưa đức vua" - người vợ thứ hai đáp - "Nhưng thiếp hứa sẽ chăm sóc bệ hạ đến những giây cuối cùng, rồi sẽ đưa bệ hạ đến nơi yên nghỉ và sẽ luôn nhớ đến bệ hạ!". Nhà vua hoàn toàn tuyệt vọng.

Nhà vua không hề nhớ ra người vợ thứ nhất, cho đến khi ngài nghe thấy một giọng nói cất lên bên cạnh: "Thiếp sẽ theo ngài đến bất cứ nơi đâu ngài đi tới, dù đó là cõi chết". Đó chính là người vợ thứ nhất của
ông. Trông bà mệt mỏi và gầy yếu. Buồn bã và nuối tiếc vô hạn vì cách đối xử của mình, nhà vua thốt lên: "Lẽ ra ta đã phải chăm sóc và thương yêu nàng nhiều hơn mới phải!".

Bạn vừa được đọc một câu chuyện cổ tích, trong đó có vua và các bà hoàng. Chúng ta không sống trong thế giới cổ tích, nhưng bạn biết không, nếu coi mỗi chúng ta cũng giống như nhà vua đó, thì bạn hãy để ý xem, mỗi chúng ta cũng có đến bốn “người vợ” đấy.

“Người vợ” thứ tư của chúng ta là cơ thể. Hầu như ai cũng lo lắng, chăm sóc đến bản thân, đến cơ thể mình nhiều nhất, làm sao để trông thật đẹp đẽ. Nhưng khi chúng ta ra đi, cơ thể ấy cũng tan biến, không để lại gì trên đời.
“Người vợ” thứ ba có tên là “địa vị và của cải” – đây chính là những thứ dễ mất nhất, vì dù sao chúng cũng chỉ là vật chất. Khi chúng ta không còn sống, “địa vị” không còn và “của cải” sẽ thuộc về người khác.
“Người vợ” thứ hai là gia đình và bè bạn. Họ luôn quan tâm và giúp đỡ, luôn an ủi và khuyên giải, nhưng họ chỉ có thể chăm sóc ta đến những phút cuối cùng và nhớ thương ta.

“Người vợ” thứ nhất chính là TÂM HỒN. Không phải ai cũng nhớ đến nó khi sống trong một thế giới mọi người đều phải chạy đua với của cải, địa vị để thỏa mãn cho cái “tôi” của mình. Thế nhưng TÂM HỒN là điều duy nhất luôn đi cùng với chúng ta đến bất cứ nơi nào chúng ta đến, và chính là thứ để mọi người nhớ mãi đến ta dù ta có ở nơi nào.


--- Sưu tầm ---

Vợ chồng già và chuyện lúc nửa đêm


Tối kia, một cặp vợ chồng có tuổi đang nằm trên giường. Người chồng rơi vào giấc ngủ nhưng người vợ cảm thấy tình cảm dâng trong lòng và muốn tâm tình một chút. Bà nói:
http://nld.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/05/27/voc.gif
Ảnh minh họa

- Anh thường cầm tay em khi chúng ta yêu nhau.

Một cách mệt mỏi, ông chồng vươn ngang tay, cầm tay vợ trong một giây, sau đó cố quay lại giấc ngủ. Một lát sau bà nói:

- Sau đó anh thường hôn em.

Hơi bực dọc, ông vươn người qua, hôn vội một cái trên má bà vợ và nằm xuống ngủ tiếp. Ba mươi giây sau, bà nói:

- Sau đó anh còn cắn yêu em.

Điên tiết, ông tung chăn và nhảy ra khỏi giường.

- Anh đi đâu vậy? - Bà hỏi.

Ông chồng quay lại và quát nhặng lên:

- Lấy hàm răng giả chứ còn đi đâu.




--- Sưu tầm ---

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Đại cương về tiền tệ, p7

VI. NHẬN ĐỊNH VỀ HỆ THỐNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỰ DO - HẬU BRETTON WOODS


1) Chế độ tiền tệ Jamaica – Bút tệ SDR

Hạn chế là SDR chỉ sử dụng cho những quốc gia thành viên của IMF. Thêm nữa, do đây là bút tệ, không phải tiền mặt nên không phổ biến trong lưu thông như USD.

Bên cạnh đó, USD có từ lâu và mọi hàng hoá do đã được định theo tiêu chuẩn USD nên khi buôn bán các giao dịch cũng dựa trên USD. Mỹ lại là một nước chiếm tỷ lệ giao dịch thương mại rất lớn trên thế giới và đồng thời lại là nước đóng góp quỹ cho các tổ chức như IMF, WB… nhiều nhất. Đây cũng là một yếu tố quan trọng khiến USD đứng vững.

Chính vì những lý do trên mà dù có từ 1969 nhưng SDR vẫn ít được sử dụng. Thậm chí, ngay cả những quốc gia thành viên IMF khi giao thương với nhau thì cũng sử dụng USD là chủ yếu.


2) Đồng EUR

Việc ra đời đồng EUR tạo ra những thuận lợi cho trao đổi thương mại trong khu vực. Thêm nữa, EUR đồng thời cũng là một công cụ dự trữ tốt bên cạnh các ngoại tệ khác như USD.

Tuy nhiên, đồng EUR hiện nay cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong đó rõ nhất là tình trạng xung đột lợi ích giữa các quốc gia. Do trong liên minh có những quốc gia có nền kinh tế mạnh và yếu khác nhau nên các quốc gia mạnh phải giúp đỡ vực dậy các quốc gia yếu hơn để tránh đồng tiền bị chết. Cụ thể, cuộc khủng hoảng nợ hiện nay của các nước như Hy Lạp, Ai-len và của những quốc gia khác đang trên bờ vực như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý đã làm cho những nước như Đức và Pháp phải bỏ tiền thuế của dân vào cứu những nước đó, khiến cho dân chúng những nước đó phản đối kịch liệt.


Người viết: xuanlanvu@yahoo.com



TÀI LIỆU THAM KHẢO


Mankiw N. Gregory, Nguyên lý Kinh tế học, NXB Thống Kê 2003
Paul A. Samuelson & William D. Nordhalls, Kinh tế học – tái bản lần thứ nhất, NXB Tài chính, 2007
David A. Moss, người dịch: Châu Văn Thành, Hướng dẫn tóm tắt về Kinh tế học vĩ mô – Những điều các nhà quản lý, các nhà điều hành và sinh viên cần biết, Harvard Business School Press 2007
TS. Nguyễn Minh Kiều, Tiền tệ Ngân hàng, NXB Thống Kê 2009
Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Tiếng Việt, in lần thứ 10, NXB Đà Nẵng 2004
Bernard Guerrine, người dịch: Nguyễn Đôn Phước, Từ điển phân tích kinh tế, NXB Tri Thức 2007


Các trang web:

www.saga.vn
www.vi.wikipedia.org
www.imf.org 
www.nghiatq.wordpress.com
www.chieuxua.com/forums/viewtopic.php?t=2421
www.didyouknow.org/creditcards/
http://www.ecb.int
http://fx.sauder.ubc.ca/ECU.html

Đại cương về tiền tệ, p6

IV. SỰ SỤP ĐỔ CỦA BẢN VỊ VÀNG


Tuy có ưu điểm là khan hiếm nên giá trị được đảm bảo. Nhưng hạn chế của Bản vị vàng cũng từ ưu điểm này mà ra. Do nền kinh tế sản xuất hàng hoá phát, hàng hoá ngày càng sản xuất ra nhiều hơn nhưng vàng thì lại có hạn nên nếu theo chế độ bản vị vàng thì hàng hoá sẽ bị giảm phát. Vì thế, người ta phải tìm thứ khác có giá trị để thay thế. Bên cạnh đó, việc thanh toán, dự trữ vàng gặp nhiều khó khăn khi vận chuyển, bảo quản tốn nhiều chi phí.

Thêm nữa, việc phụ thuộc vào Bản vị vàng sẽ khiến cho các chính phủ khó can thiệp vào thị trường thông qua chính sách tiền tệ do giá trị đồng tiền quốc gia được neo vào vàng. Việc nắm giữ nhiều vàng cũng không cho thấy được hoàn toàn về sức mạnh kinh tế hay bình ổn của quốc gia. Nhật Bản là một nước có nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới nhưng lượng vàng dự trữ lại ít hơn rất nhiều so với cần thiết như các nước khác.


V. SỰ SỤP ĐỔ CỦA HỆ THỐNG GENOVA & BRETTON WOODS


1) Sự sụp đổ của hệ thống Genova

Đại chiến thế giới thứ nhất qua đi khiến nước Anh bị thiệt hại nặng và đồng thời cả châu Âu bị tụt hậu so với Mỹ. Từ đây, đồng Bảng Anh dần bị mất vị thế trên thị trường để nhường vị trí cho đồng đô la Mỹ.


2) Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Wood

Sau khi đồng USD được xem là đồng tiền tiêu chuẩn của thế giới trong giao dịch thương mại và dự trữ thì một thời gian sau đến nước Mỹ bị thâm hụt thương mại. Do chi tiêu quá nhiều vào chiến tranh, cộng với chi tiêu phúc lợi cho xã hội của Mỹ quá cao nên Mỹ bắt đầu in thêm tiền, dẫn đến hậu quả lạm phát. Cùng lúc đó, các nền kinh tế của Nhật, Đức lại bắt đầu hồi phục và phát triển, thặng dư tại những nước này tăng dần. Các nước này sau đó lấy USD thặng dư để mua vàng của Mỹ theo một giá cố định quy ước ban đầu khiến dự trữ vàng của Mỹ cạn dần. Để chống lại việc này Mỹ đã ngừng việc chuyển đổi và thả nổi giá vàng vào năm 1973. Việc Mỹ lạm phát nên đồng USD mất giá so với các đồng tiền khác nhưng các nước như Đức, Nhật và Thụy Sĩ lại từ chối việc cân bằng tỷ giá như thoả thuận đã ký trong Hiệp định khiến cho USD giảm giá mạnh. Vì những lý do đó, hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào năm 1971.


--- CÒN TIẾP ---

________________________________________

[1] Liên minh châu Âu dùng đồng EUR. Nhưng trước khi đồng EUR được lưu thong rộng rãi thì SDR dựa vào đồng Mác Đức và Franc của Pháp.

[2] http://translate.googleusercontent.com/translate_c?hl=vi&langpair=en|vi&u=http://www.ecb.int/euro/exchange/html/index.en.html&rurl=translate.google.com.vn&twu=1&usg=ALkJrhhWs3MdWUxEMHdXlvkyowOEDKT29A

[3] http://fx.sauder.ubc.ca/ECU.html

Đại cương về tiền tệ, p5



c) Chế độ tiền tệ Jamaica – Bút tệ SDR

Là một loại tiền tệ do quỹ tiền tệ quốc tế IMF tạo ra vào năm 1969 nhằm hoàn thiện hệ thống Bretton Woods. Chế độ này thừa nhận SDR (Special Drawing Right) là công cụ dự trữ tiêu chuẩn mới bên cạnh vàng và USD.

Trước đây, SDR được định giá dựa vào vàng và USD. Tuy nhiên, sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ thì SDR định giá dựa trên một “rổ tiền tệ” gồm 4 đồng tiền mạnh và ổn định của 4 cường quốc sau Mỹ (USD), Nhật (JPY), Anh (GBP) và Liên minh châu Âu ECB (EUR)[1]. “Rổ tiền tệ” này sẽ được quyết định bởi Hội đồng điều hành mỗi năm năm một lần. Lãi suất thì được công bố hàng tuần dựa trên bình quân gia quyền của lãi suất các đồng tiền trong “rổ tiền tệ”.

Quốc gia giữ SDR có thể chuyển đổi sang tiền bất cứ lúc nào thong qua 2 cách: hoặc thoả thuận với quốc gia thành viên khác hoặc sẽ bán cho một quốc gia thành viên được IMF chỉ định.


d) Đồng EUR

Trước sự bành trướng của Mỹ, châu Âu nhằm mục đích đối trọng với Mỹ đã thành lập ra một lien minh châu Âu gồm 15 nước thành viên là những nước thuộc khu vực châu Âu là Anh, Ai-len, Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Ý, Lu-xem-bua, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha và Thụy Điển. Sau khi thành lập lien minh châu Âu, cũng vì muốn có đồng tiền riêng của khu vực để giao dịch thương mại tiện lợi và cũng vì muốn cạnh tranh với USD nên đồng Euro (EUR) ra đời.

EUR trước 16/12/1995 thì gọi là đồng ECU và chỉ dùng như bút tệ là chủ yếu. Sau này, kể từ 1/1/2002 thì đồng EUR mới được in và sử dụng rộng rãi trong dân. Lúc đầu, EUR cùng tồn tại song song với đồng nội tệ của các quốc gia và người dân được quy định hạn định phải đổi sang đồng EUR để sử dụng. Tại các quốc gia khác nhau thì hạn định này cũng khác nhau nhưng thong thường là từ tháng 2 đến hết tháng 6 năm 2002. Riêng tại Đức, Ai-len, Tây Ban Nha, Áo và Estonia thì đồng nội tệ có thể được đổi sang EUR bất kỳ lúc nào mà không quy định hạn thời gian cụ thể.[2]

EUR gồm 2 loại: tiền kim loại và tiền giấy. Tiền kim loại có mặt trước giống nhau nhưng khác nhau ở mặt sau tại những quốc gia khác nhau. Tiền giấy thì thống nhất trên toàn lien minh châu Âu.

Việc đổi đồng nội tệ của mình sang EUR thì phải theo một tỷ giá cố định đã quy ước sẵn. Tỷ giá này gồm 6 số lẻ nhằm hạn chế việc sai số lớn. Tỷ giá được quyết định dựa trên lượng dự trữ vàng và ngoại tệ của các quốc gia đó.[3]


--- CÒN TIẾP ---

________________________________________


[1] Liên minh châu Âu dùng đồng EUR. Nhưng trước khi đồng EUR được lưu thong rộng rãi thì SDR dựa vào đồng Mác Đức và Franc của Pháp.

[2] http://translate.googleusercontent.com/translate_c?hl=vi&langpair=en|vi&u=http://www.ecb.int/euro/exchange/html/index.en.html&rurl=translate.google.com.vn&twu=1&usg=ALkJrhhWs3MdWUxEMHdXlvkyowOEDKT29A

[3] http://fx.sauder.ubc.ca/ECU.html

Đại cương về tiền tệ, p4

III. BẢN VỊ TIỀN

Là hình thức tổ chức lưu thông[1] tiền tệ hay còn gọi là kiểu chế độ tiền tệ


1) Đơn bản vị bạc, Đơn bản vị vàng và Song bản vị vàng và bạc

Thời xưa, khi người ta dùng kim loại làm tiền, bạc và vàng là những kim loại quý được đúng thành tiền theo tiêu chuẩn hình dáng và trọng lượng nhất định rồi được đưa vào lưu thông. Sau này khi tiền giấy xuất hiện thì cũng được quy ước gắn liền với một giá trị bạc hay vàng tiêu chuẩn cụ thể. Nếu chỉ dựa vào bạc thì gọi là Đơn bản vị bạc, nếu chỉ dựa vào vàng thì gọi là Đơn bản vị vàng. Nếu dựa vào cả hai tiêu chuẩn bạc và vàng thì gọi là chế độ Song bản vị vàng và bạc.

Trong một nền kinh tế cùng tồn tại 2 loại tiền thì đồng tiền nào yếu sẽ loại đồng tiền mạnh. Đây cũng là nội dung của định luật Gresham “Trong một quốc gia khi nào hai thứ tiền tệ cùng được luật pháp công nhận theo một giá đổi chính thức thì đồng tiền xấu sẽ dần dần đuổi đồng tiền tốt ra khỏi lưu thông.”[2]


2) Bản vị ngoại tệ

a) Chế độ tiền tệ Genova
Được hình thành dựa trên những thoả thuận giữa các nước tham gia Hội nghị tiền tệ quốc tế tổ chức tại Genova, Ý vào năm 1922. Các nước thừa nhận đồng Bảng Anh là đồng tiền chính trong thanh toán và dự trữ. Chế độ tiền tệ này còn gọi là Bản vị Bảng Anh.


b) Chế độ tiền tệ Bretton Woods
Sau Thế chiến lần 2, do không bị thiệt hại từ chiến tranh phải tái thiết lại như những nước châu Âu, Mỹ trở thành một quốc gia hùng mạnh nhất thế giới và đồng thời là nước có lượng vàng dự trữ lớn nhất. Tháng 7 năm 1944, Mỹ đã đứng ra tổ chức Hội nghị tiền tệ quốc tế tại Bretton Woods với sự tham gia của 44 quốc gia. Hệ thống tài chính Bretton Woods ra đời với các tổ chức Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) cùng với việc thừa nhận đồng USD là đồng tiền tiêu chuẩn trong dự trữ và thanh toán quốc tế. Các đồng tiền quốc gia khác phải gắn chặt với USD theo một tỷ giá cố định. Và vàng sẽ được gắn một giá cố định là 1 ounce vàng có giá 35USD.

Các quy định của chế độ tiền tệ Bretton Woods yêu cầu ngân hàng trung ương các quốc gia thành viên có trách nhiệm giữ tỷ giá các đồng tiền quốc gia mình luôn theo tỷ giá cố định đã quy định, nghĩa là họ phải can thiệp vào thị trường ngoại hối, bán đồng nội tệ để mua đồng USD đẩy giá trị đồng nội tệ quốc gia đó xuống nếu đang bị cao hơn hay mua đồng nội tệ nước mình vào để đẩy giá đồng tiền đó lên khi nó đang bị thấp.


--- CÒN TIẾP ---

________________________________________

[1] Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, trang 31, NXB Đà Nẵng – 2004, in lần thứ 10

[2] TS Nguyễn Minh Kiều, Tiền tệ ngân hàng, trang 44, NXB Thống Kê 2009