Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Sợ dân - Nguyễn Hưng Quốc


1. Trước hết là sợ dân Sài Gòn.
Theo dõi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc vào mỗi sáng Chủ nhật ở Việt Nam trong mấy tháng vừa qua, chúng ta thấy có hai biến chuyển rất đáng chú ý.
Trước hết, ít nhất cho đến Thứ Năm 18 tháng 8, càng ngày chính quyền càng có vẻ nhân nhượng hơn. Nhân nhượng bằng hai cách: một, thừa nhận các cuộc biểu tình ấy là xuất phát từ lòng yêu nước; và hai, tuyên bố họ không có chủ trương trấn áp những người biểu tình. Sự nhân nhượng ấy không phải chỉ thấy trong lời nói (được phát trên truyền hình và in lại trên báo) mà còn cả trong việc làm: cuộc biểu tình tại Hà Nội vào sáng Chủ nhật ngày 7 và 14 tháng 8 đã diễn ra tương đối tốt đẹp. Không còn nữa hình ảnh các công an quằm quặm nhìn người biểu tình như những kẻ tử thù. Không còn nữa hình ảnh công an kẹp cổ hay đạp vào mặt dân. Trên nét mặt của những người đi biểu tình, được đăng tải trên các blog, rõ ràng lộ vẻ hân hoan. Dường như, từ năm 1975 đến nay, chưa bao giờ có cuộc biểu tình tự phát nào của dân chúng mà lại diễn biến một cách suôn sẻ và thoải mái như thế.
Nhưng bên cạnh đó, có một biến chuyển khác, biến chuyển thứ hai mà chúng ta không thể không chú ý: Đó là, tất cả các cuộc biểu tình chống Trung Quốc từ giữa tháng 6 đến nay đều chỉ diễn ra ở Hà Nội. Sự nhân nhượng của công an đối với các cuộc biểu tình chống Trung Quốc cũng chỉ xảy ra ở Hà Nội. Còn ở Sài Gòn thì mọi Chủ nhật đều im ắng. Không có gì cả. Không có xuống đường. Không có hò hét đả đảo Trung Quốc. Không. Mặt trận miền... Nam vẫn yên tĩnh.
Tại sao?
Tại dân chúng miền Nam, đặc biệt dân chúng Sài Gòn, không yêu nước hay không công phẫn trước những thách thức ngang ngược và trắng trợn của Trung Quốc? Tại mọi người đều thờ ơ hay khiếp sợ?
Chắc chắn là không phải. Nhớ, trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc đầu tiên vào sáng Chủ nhật 5 tháng 6, dân chúng tụ tập ở Sài Gòn đông hơn hẳn ở Hà Nội. Với sự tham gia của các tên tuổi như Nguyễn Đình Đầu, Lê Hiếu Đằng, Đinh Kim Phúc, Đỗ Trung Quân, Huỳnh Tấn Mẫm, cuộc biểu tình tại Sài Gòn hôm ấy đã, thứ nhất, thu hút rất nhiều người tham dự; và thứ hai, cũng thu hút rất nhiều sự chú ý của dư luận không những tại Việt Nam mà còn cả trên thế giới. Báo chí khắp nơi, khi tường thuật cuộc biểu tình, đã tập trung hầu hết sự quan tâm vào Sài Gòn. Cuộc biểu tình ở Hà Nội chỉ như một cái bóng mờ khiến ngay nhiều người ở Hà Nội cũng đâm chua xót tự hỏi: Chẳng lẽ người Hà Nội lại dửng dưng trước vận mệnh của đất nước đến vậy sao?
Thế nhưng đến các Chủ nhật sau đó thì tình hình khác hẳn. Trong khi ở Hà Nội nhiều người vẫn tiếp tục xuống đường biểu tình thì ở Sài Gòn không khí lại im ắng hẳn.
Điều gì dẫn đến sự thay đổi đột ngột như vậy?
Câu trả lời dễ dàng: Khủng bố.
Ở Hà Nội, hầu hết những tên tuổi lớn thường tham gia biểu tình, nói chung, vẫn vô sự. Kể cũng có chút khó dễ nhưng, nói chung, với mức độ vừa phải. Công an muốn cầm chân giáo sư Nguyễn Huệ Chi cũng như tiến sĩ Nguyễn Quang A (1) và nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên (2) ở nhà để họ không tham dự biểu tình được, nhưng cuối cùng, họ vẫn đến. Chỉ có quấy nhiễu nhưng rõ ràng chưa đến mức khủng bố. Ở Sài Gòn, ngược lại, các biện pháp cầm chân được tiến hành một cách chặt chẽ và quyết liệt đến độ người ta không thể ra khỏi nhà được. Đi cửa trước: công an chận. Đi cửa sau: công an chận. Có người còn bị công an mời đến cơ quan làm việc từ tối hôm trước. Công an gọi thì phải tới. Tới thì chỉ cà phê, thuốc lá và nói chuyện tào lao. Nhưng về thì lại không được. Cứ bị cầm chân mãi ở cơ quan đến tận trưa Chủ nhật hôm sau, lúc mọi dự định biểu tình đã chấm dứt thì lại được tự do về nhà.
Hỏi: Tại sao các anh giữ tôi từ hôm qua đến nay?
Trả lời: Chúng tôi đâu có giữ anh đâu! Ở đây là cơ quan, nơi anh đang làm việc chứ có phải  là đồn công an đâu? Sau anh lại nói là “giữ”?
Ừ, thì không giữ, không giam. Nhưng cũng không có tự do về nhà. Chứ đừng nói gì đến tham gia biểu tình.
Cứ thế, từ người này đến người khác; từ tên tuổi lớn đến tên tuổi nhỏ. Không có ai ra đường được. Thanh niên lảng vảng đến gần khu tập trung biểu tình thì bị xua đuổi. Ngồi quán cà phê cũng không được. Gọi điện thoại di động cũng không được: sóng bị phá. Mọi nỗ lực tổ chức biểu tình sau đó đều bị vỡ từ trong trứng nước.
Nhưng vấn đề là: Tại sao công an nhân nhượng với dân Hà Nội mà lại không nhân nhượng với dân Sài Gòn? Tại sao cũng là biểu tình chống Trung Quốc uy hiếp và xâm lược mà ở Hà Nội thì được xem là yêu nước, còn ở Sài Gòn thì không?
Xin nói thêm: Chính nhiều người trong nước cũng ngạc nhiên về điều ấy. Ví dụ, trong bài “Mấy dòng nhật ký biểu tình", giáo sư Nguyễn Huệ Chi viết:
"Đúng là những cuộc biểu tình này là một đốm lửa, đốm lửa đó ngày xưa gọi là phong hỏa đài, cháy lên như một con mắt không ngủ để canh cho toàn dân yên tâm làm việc kiếm ăn sinh sống, và cứ nhìn vào tín hiệu đốm lửa đó thì người dân hoặc có thể quên đi mọi nỗi băn khăn nhức nhối của mình, hoặc biết rằng đã đến lúc phải vùng dậy xả thân cứu nước rồi. Cái giá trị của đốm lửa là ở đấy. Nhưng ai sẽ là người tiếp dầu cho lửa không tắt? Và biết đâu có những kẻ nào đó đang chờ cơ hội để dập tắt ngọn lửa khi mọi người không đề phòng. Biết đâu đấy. Hãy cứ nhìn vào thực trạng ở Sài Gòn, nơi vốn có truyền thống biểu tình sôi sục dưới thời Việt Nam Cộng hòa, vậy mà vì sao giờ đây lại... im re đến thế? Trong đó với ngoài này lòng yêu nước nào có gì khác nhau."
Trong bài "Thư Sài Gòn", nhà thơ Đỗ Trung Quân cũng viết, tương tự:
'Sài Gòn im ắng dần. Vì sao? Có nhiều lý do khác nhau mà cá nhân mình không thể trả lời thay.
Tôi biết những lời trách móc thậm chí dè bỉu từ Hà Nội, nơi những cuộc tuần hành ngày càng có qui củ,  chính kiến rất rõ rệt với kẻ thù và được chính quyền cũng phần nào nhẹ tay sau những đàn áp tệ hại vừa qua.
Tôi cũng chỉ cười buồn. Hà Nội có câu nói ra miệng của Tướng Nhanh, còn Sài Gòn, khác lắm. Nó không có câu nói nào tương tự. Nó, dường như chỉ làm được một điều nhỏ nhoi duy nhất: Nhóm lên đốm lửa ban đầu. Thế thôi."
Cùng một nỗi băn khoăn và một nỗi ngậm ngùi, nhưng cả Nguyễn Huệ Chi lẫn Đỗ Trung Quân đều không trả lời tại sao có sự phân biệt trong thái độ và trong chính sách của nhà cầm quyền đối với người dân Sài Gòn.
Bạn có biết tại sao không?
2. Sau đó là sợ dân chúng nói chung
Phần 1 ở trên được viết xong vào Chủ Nhật tuần trước (14/8). Bây giờ (19/8), đọc lại, đã thấy lỗi thời. Ngày 18/8, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ra thông báo cấm tất cả “mọi hoạt động tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát” chống Trung Quốc trên địa bàn thành phố. Lý do được nêu lên là chúng "gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, đến hình ảnh thủ đô - Thành phố Vì hòa bình; tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; tác động tiêu cực tới việc thực hiện đường lối, quan hệ ngoại giao của Đảng, Nhà nước".
Quyết định cấm biểu tình của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chứa đựng nhiều vấn đề có thể phân tích và phê phán. Những ngày sắp tới chắc chắn sẽ có nhiều người, trong cũng như ngoài Việt Nam, sẽ làm điều ấy. Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là: đằng sau quyết định ấy lại vẫn là những nỗi sợ. Sợ mất lòng Trung Quốc. Và, có lẽ, quan trọng hơn, là sợ dân.
Việc dân chúng xuống đường, cho dù để chống Trung Quốc, dưới mắt nhà cầm quyền, vẫn “tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị”.
Sợ “mất ổn định chính trị” là gì, hẳn ai cũng biết.
***
Chú thích:
1. Xem bài “Công an đang quấy rầy tôi” của Nguyễn Quang A
2. Xem bài “Người mọc đuôi” của Phạm Xuân Nguyên
Nguon: http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/so-dan-08-19-2011-128101383.html

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Nợ nước ngoài năm 2010 chiếm 42.2% GDP của Việt Nam

Nợ nước ngoài của Việt Nam đã lên tới 32,5 tỉ đô la trong tháng 12 năm 2010, tăng từ con số 27,9 tỉ đô la của cùng thời gian này năm 2009.

Bản tin của hãng thông tấn Đức trích dẫn các số liệu do Bộ Tài chánh Việt Nam công bố hôm thứ Hai nói rằng những khoản nợ trực tiếp của chính phủ chiếm gần 27,9 tỉ đô la và phần còn lại là những khoản nợ của các công ty địa phương được chính phủ bảo lãnh.

Gần 25,9 tỉ đô la nợ nước ngoài có lãi suất cố định, trong đó có 21,29 tỉ đô la có lãi suất hàng năm từ 1% đến 2,99%.

Nhật Bản là nước chủ nợ lớn nhất của Việt Nam, với tổng số các khoản cho vay tính đến cuối năm ngoái là 9,55 tỉ đô la, tương đương với 34,27%.

Năm ngoái Việt Nam đã trả 1,67 tỉ đô la nợ gốc, lãi và phí.

Các nhà lập pháp Việt Nam đã chấp thuận ngân sách 86 ngàn tỉ đồng (4,4 tỉ đô la) để thanh toán nợ chính phủ trong năm nay, tăng 21% từ con số 70,25 ngàn tỉ đồng của năm ngoái. Trong số này, chính phủ sẽ dùng 85 ngàn tỉ đồng để trả nợ và 1 ngàn tỉ đồng để hoàn trả các khoản viện trợ nước ngoài.

Một số các nhà phân tích ở Hà Nội đã kêu gọi giới hữu trách tăng cường quản lý nợ nước ngoài sau khi công ty tàu thủy quốc doanh Vinashin bị suy sụp hồi năm ngoái với khoản nợ lên tới 4,5 tỉ đô la.

Tỉ lệ nợ công của Việt Nam trong năm 2011 dự kiến sẽ tăng tới 57% GPD từ mức 52,6% của năm 2010 và 47,5% của năm 2009.

Các nhà kinh tế cho biết đà gia tăng nợ công của Việt Nam có phần chắc sẽ tạm thời khựng lại nhưng sau đó sẽ tăng dần tới mức 64% GDP vào năm 2015 và 80% GDP vào năm 2020.

Nguồn: 
http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/vietnam-foreign-debt-widen-08-16-2011-127825063.html

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011

Ngân hàng Trung Ương châu Âu chi 32 tỉ hỗ trợ Tây Ban Nha, Ý

Ngân hàng Trung ương châu Âu cho biết trong tuần qua đã chi gần 32 tỉ về nợ chính phủ để vực dậy các thị trường trái phiếu của Tây Ban Nha và Ý.

Tin này được đưa ra chỉ 1 ngày trước khi lãnh đạo các nước Đức và Pháp gặp nhau tại Paris để bàn thảo về cuộc khủng hoảng nợ đang xảy ra tại 17 quốc gia châu Âu đang sử dụng đồng euro. 

Nhưng cả Thủ tướng Đức Angela Merkel lẫn Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đều nói, đề tài cùng nhau phát hành trái phiếu “Eurobond” để giải quyết vấn đề nợ của khu vực đồng euro sẽ không có trong nghị trình. 

Những người lo ngại phát hành trái phiếu eurobond sẽ hạ giảm phần thưởng đối với những nền kinh tế sử dụng euro yếu kém, chẳng hạn như Hy Lạp, để những nước đó cải tổ nền kinh tế, mặt khác gánh nặng phải chia sẻ lợi ích sẽ tác hại về tài chánh lên những nước lành mạnh. 

Bà Merkel và ông Sarkozy dự kiến sẽ bàn thảo về việc cải thiện quản lý kinh tế.

Với việc châu Âu tiếp tục tìm kiếm những bước thỏa đáng cho thị trường tài chánh, Ngân hàng Trung ương châu Âu  đã chọn một vị thế trung tâm hơn nhằm đối phó với cơn khủng hoảng, từng buộc phải dùng những biện pháp cứu nguy to lớn cho Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha.



Nguon: http://www.voanews.com/vietnamese/news/eurozone-financial-8-15-11-127787243.html

Tại sao trời không sập?

Ðầu tháng trước, ông Lý Ðạo Quỳ (Li Daokui), cố vấn Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đã cảnh cáo nếu cuộc thương thuyết ở Quốc Hội Mỹ bế tắc, nước Mỹ có nguy cơ vỡ nợ, đồng đô la sẽ xuống giá, làm thiệt hại đến nhà nước Trung Quốc, vì họ đang cầm trong tay những giấy nợ của Mỹ trị giá hơn một ngàn tỷ đô la!
Ngày hôm qua, bà Christine Lagarde, tân chính trị Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và cựu bộ trưởng Tài Chánh Pháp cũng lên tiếng cảnh cáo rằng nếu chính phủ Mỹ “vỡ nợ” hoặc điểm tín dụng bị hạ xuống thấp thì cả thế giới sẽ bị vạ lây! Cuối tuần qua, cả Tổng Thống Barack Obama lẫn Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner đều nói rằng họ sẽ cố đạt được một thỏa thuận trong chiều Chủ Nhật, trước khi các thị trường chứng khoán Á Châu mở cửa, để tránh cảnh người ta đổ xô đi bán các cổ phiếu vì lo!

Nhưng sau đó hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vẫn chưa đạt được thỏa hiệp nào hết; mà các thị trường ở Á Châu vẫn mua bán thản nhiên! Trong lúc đó thì tại thị trường chứng khoán New York Chỉ số Dow Jones chỉ xuống chút đỉnh, hôm Thứ Hai mất 50 điểm, Thứ Ba mất 90 điểm. Mức sụt giảm nhỏ như vậy thường xẩy ra như khi mức lời của một vài công ty lớn thấp hơn mong đợi.

Thường khi một công ty hay một chính phủ có nguy cơ vỡ nợ thì những trái phiếu của họ bị sụt giá, vì với mức rủi ro lớn hơn mọi người muốn phải đạt được một mức tiền lãi cao hơn mới bõ công bỏ tiền mua. Nhưng trong mấy ngày qua các công trái 10 năm của chính phủ Mỹ vẫn vững giá, dân đầu tư chấp nhận chỉ được lãi 3% cũng thỏa mãn rồi! Tức là người ta hoàn toàn tin tưởng rằng cứ cho chính phủ Mỹ vay đi, thế nào cũng được hoàn trả! Các công ty Moody hay S&P dọa sẽ hạ thấp điểm tín dụng của chính phủ Mỹ? Nhưng các công ty thẩm lượng tín dụng chưa bao giờ hạ điểm của một xí nghiệp hay một chính phủ nào khi thị trường vẫn còn tín nhiệm khiến họ có thể đi vay với mức lãi suất chỉ có 3%!

Một con nợ mà chậm trả tiền lãi trong một hai ngày là coi như vỡ nợ rồi (hỏi công ty Vinashin thì biết). Nhớ lại cuối năm 2008, Ngân hàng Lehman Brothers phá sản, chính phủ Georges W. Bush muốn có 700 tỷ Mỹ kim để cứu các ngân hàng. Ðề nghị này bị Quốc Hội bác bỏ, thị trường chứng khoán khắp nơi sụt giảm mạnh, thế là cả hai đảng phải chấp thuận ngay món tiền cựu trợ đó. Vậy mà tới hôm nay hai đảng vẫn còn găng nhau, cò kè bàn cãi từng trăm tỷ đô la một, trong khi thị trường chứng khoán coi như chỉ lắc đầu, nhún vai chờ đợi!

Không lẽ hàng triệu nhà đầu tư khắp thế giới lại dửng dưng không lo lắng gì trước viễn cảnh quốc gia giầu mạnh này có nguy cơ vỡ nợ khiến kinh tế cả thế giới bị suy trầm?

Câu trả lời giản dị là: Người ta không tin chuyện đó sẽ xẩy ra! Lo lắng nước Mỹ sắp vỡ nợ cũng không khác gì chuyện “Người nước Kỷ lo trời sập” trong Cổ Học Tinh Hoa. Chắc trời sẽ không sập đâu! Chúng ta sẽ thấy khi nhìn vào các con số.

Hiện nay nhà nước liên bang Mỹ mang nợ hơn 14,000 tỷ đô la. Mỗi tháng Bộ Tài Chánh Mỹ phải trả tiền lãi cho các “chủ nợ” cũ, tức những người đang cầm các trái phiếu của chính phủ, số tiền phải thanh toán trung bình 15 đến 20 tỷ đô la. Trong Tháng Tám này sẽ phải trả 29 tỷ, Tháng Chín chỉ dưới 10 tỷ thôi. Trong khi đó, nhà nước vẫn thu tiền vào (đừng quên, dân Mỹ vẫn tiếp tục đóng thuế dù trời có sập hay không), trung bình mỗi tháng nhà nước Mỹ thu khoảng 200 tỷ Mỹ kim. Do đó, thế nào chính phủ cũng có tiền trả lãi. Còn tiền vốn đáo hạn phải trả thì sao? Bộ Tài Chánh sẽ dùng số tiền thu trong số 200 tỷ trên để hoàn lại chủ nợ cũ. Nhưng ngay sau khi trả nợ rồi thì tổng số nợ xuống dưới mức trần, họ có quyền đi vay đúng số tiền đó để bù vào ngân sách! Mỗi tuần chính phủ Mỹ vẫn cứ trả nợ rồi lại đi vay bao nhiêu lần chưa hề ngưng.

Vấn đề của chính phủ Mỹ không phải là vỡ nợ, mà là sẽ “thiếu tiền tiêu!” Một tổ chức độc lập, Bipartisan Policy Center (BPC) đã tính trong khoảng ngày 2 đến ngày 9 Tháng Tám, tổng số công trái (giấy nợ của quốc gia) sẽ lên tới mức 14,300 tỷ, tức là đụng trần. Nếu không được vay thêm nợ, thì chính phủ sẽ phải cắt giảm các món chi tiêu khác. BPC tính trong Tháng Tám này, chính phủ Mỹ sẽ thu được 172 tỷ đô la; trong khi theo ngân sách đã được Quốc Hội chấp thuận từ trước thì sẽ phải chi ra 307 tỷ.

Theo BPC, số tiền 172 tỷ đó dư để trả tiền lãi các món nợ cũ (29 tỷ), tiền Hưu Bổng Xã Hội (Social Security, hay SS, 49 tỷ), Medicare và Medicaid (50 tỷ), lương binh sĩ (3 tỷ), cựu chiến binh (3 tỷ). Còn lại chưa tới 40 tỷ để chi cho các mục khác.

Bây giờ chính phủ Obama sẽ phải quyết định đặt ưu tiên dùng món tiền 40 tỷ đó như thế nào! Thí dụ, có thể đem chi cho các món trợ cấp thất nghiệp (13 tỷ); trả lại dân số tiền thuế nộp dư (IRS refunds 4 tỷ); trả tiền cho các công ty cung cấp cho bộ Quốc Phòng (32 tỷ); trợ cấp xã hội trong đó có phiếu thực phẩm Food stamps (9 tỷ); chi cho bộ Giáo Dục (20 tỷ); cùng các cơ quan chính phủ khác. Tổng cộng sẽ thiếu 135 tỷ. Nếu không được vay nợ mới, chính phủ sẽ phải cắt các món chi tiêu khoảng 135 tỷ, tức là cắt 44%. Cắt món nào, cắt của ai? Dưới thời cựu Tổng Thống Clinton (Dân Chủ), đã có lúc chính phủ bị thiếu tiền giống như vậy; không phải vì đụng trần nợ mà vì Quốc Hội (Cộng Hòa) không chịu biểu quyết ngân sách như ông tổng thống muốn. Lúc đó, ông Clinton dọa sẽ không còn tiền trả lương hưu SS khiến Quốc Hội đã phải biểu quyết một ngân sách riêng cho món này!

Bây giờ cảnh đó có thể tái diễn, nhưng có nhiều cách để bộ Tài Chánh Mỹ vẫn có thêm tiền tiêu, ngay cả sau khi đụng trần giới hạn công trái.

Trong số hơn 14 ngàn tỷ nợ nần đó thực các chủ nợ là ai. Tới ngày cuối Tháng Ba năm 2011, tổng số nợ của chính phủ Mỹ là $14,270.1 tỷ (đô la Mỹ). Trong số đó, công chúng làm chủ $9,656.6 tỷ tiền nợ, Công chúng (public) gồm có các nhà đầu tư trong nước Mỹ và ngoại quốc, các chính phủ và ngân hàng trung ương các nước khác mà Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (Federal Reserve system) làm chủ nhiều nhất, $1,427.4 tỷ. Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đứng hạng nhì ($1,100 tỷ) rồi đến Nhật Bản ($900 tỷ). Những giấy nợ mà “công chúng” cầm, họ có quyền đem bán trên thị trường (marketable), một thị trường rất năng động vì ai cũng tin rằng cho chính phủ Mỹ vay là an toàn nhất!

Ngoài số nợ với “công chúng” kể trên, các con nợ khác của chính phủ Mỹ là “người nhà,” gồm những cơ quan trong chính phủ có ngân sách riêng của họ. Tiền quý vị đi làm đóng cho những quỹ như Quỹ Hưu Bổng Xã Hội và Medicare, vân vân, tiền các ngân hàng góp để bảo hiểm các trương mục, các công chức liên bang góp tiền hưu riêng, đều được giữ trong những Quỹ Tín Thác (Trust funds). Các vị quản lý những quỹ này cũng đi mua công trái của chính phủ để sinh lời, tức là các quỹ của nhà nước Mỹ trở thành chủ nợ của nhà nước! Giống như ông nhà nước rút tiền trong cái túi áo cho cái túi quần vay nợ vậy!

Tổng cộng số tiền do các “chủ nợ trong nhà” cho chính phủ vay, vào cuối Tháng Ba năm 2011 là $4,613.5 tỷ; trong số đó có khoảng $500 tỷ không được phép đem bán lại trên thị trường (nonmarketable), giống như sổ tiết kiệm vậy! Số chủ nợ trong nhà này rất lớn: Social Security trust funds là chủ nợ của $2,606.6 tỷ; Quỹ Bảo Hiểm Tai Nạn Nghề Nghiệp (Disability) có $173.1 tỷ; Quỹ Hưu Bổng Công Chức Liên Bang (Federal employees retirement funds) là chủ $782.7 tỷ, Quỹ Y Tế Medicare đã cho chính phủ vay $337.3 tỷ; Bảo hiểm các trương mục ngân hàng (Deposit insurance funds) là chủ nợ của $38.3 tỷ, vân vân.

Bây giờ chúng ta có thể thấy chính phủ Mỹ có thể “xoay sở” với các món nợ “trong nhà” để tiếp tục có tiền tiêu mà chưa cần Quốc Hội cho phép nâng mức trần nợ lên. Khi các Quỹ Tín Thác đem tiền của Social Security hoặc Medicare mua những công trái không được phép bán trên thị trường (nonmarketable) thì tổng số nợ tăng lên, tức là tiến gần mức trần hơn. Hành động đó khiến khả năng phát hành công trái bán ra ngoài (marketable) bị giảm. Bây giờ, muốn cho tổng số nợ khỏi đụng mức trần, bộ Tài Chánh có thể ngưng không phát hành thêm các công trái “nonmarketable” đó nữa, trong khi những công trái“nonmarketable” nào đáo hạn thì tạm khoan không thanh toán vội. Hậu quả là tổng số nợ tự động giảm xuống, dưới mức trần; nhà nước lại được đi vay thêm!

Họ có quyền làm như vậy hay không? Không có sách nào cấm cả, ít nhất là chưa có! Trong thực tế, quỹ hưu bổng của các công chức liên bang đã được đối xử như vậy một lần rồi! Họ cứ chờ sẽ đến lúc chính phủ có dư tiền, sẽ đem tiền đến trả. Giống như nhà nước rút tiền trong cái túi áo trả vào cái túi quần vậy!

Tóm lại, viễn tượng chính phủ Mỹ vỡ nợ rất khó xẩy ra. Từ năm 1962, Quốc Hội Mỹ đã biểu quyết nâng mức trần nợ lên 74 lần, riêng trong 8 năm thời Tổng Thống Reagan mức trần đã được tăng lên 17 lần, thời ông Clinton 4 lần, thời ông Bush trẻ 7 lần. Nhưng vấn đề của nước Mỹ không phải là mức trần công trái, mà là ngân sách khiếm hụt!

Vì chính phủ cứ được phép vay nợ đều đều nên cứ việc chi tiêu rộng rãi; ngân sách vì thế ngày càng thâm thủng. Chính phủ Mỹ bây giờ cứ thu được 6 đồng thì chi 10 đồng, tỷ lệ thâm thủng là 40% Không một quốc gia nào có thể cứ tiếp tục chi nhiều hơn thu, rồi đi vay nợ để bù vào như vậy mãi mãi được! Ðây là một vấn đề người Mỹ phải giải quyết, càng sớm càng tốt. Tổng Thống Obama vào ngồi ở Tòa Bạch Ốc đúng lúc mối lo lắng đó nổ bùng lên (tất nhiên các đối thủ chính trị của ông góp phần chọn thời điểm cho nó nổ). Vì thế, một quyết định giản dị là tăng mức trần nợ biến thành một cuộc tranh luận về ưu tiên trong ngân sách! Việc tăng mức trần nợ không ảnh hưởng gì tói kinh tế quốc gia.

Việc cắt giảm chi tiêu của nhà nước cũng như việc tăng thuế vào lúc kinh tế đang trì trệ sẽ khiến kinh tế khó hồi phục hơn. Nếu hai đảng có đồng ý với nhau trong mấy ngày tới, chắc chắn họ cũng đặt một thời hạn dài, trong 10 năm, để các khoản cắt hay tăng sẽ chỉ được thi hành trong thời hạn 2, 3 năm nữa.

Nếu kinh tế Mỹ hồi phục rồi tăng trưởng mạnh, thì lúc đó số tiền thuế thu được sẽ tự động tăng lên. Như đã xẩy ra thời ông Clinton, ông đã cắt giảm nhiều chương trình xã hội giúp cho ngân sách cân bằng rồi thặng dư, đến thời ông Bush trẻ mới biến thành khiếm hụt.

Vụ khủng hoảng tài chánh từ năm 2007 khiến số chi tiêu của chính phủ phải tăng thêm và số thuế thu được giảm xuống! Nhưng ở Mỹ cứ một đảng nào cầm quyền thì đảng đối lập cũng hô hoán về ngân sách khiếm hụt, để bắt nhà nước giảm chi! Vì vậy, chúng ta được chứng kiến cảnh hai đảng tranh cãi và những lời báo động nếu họ còn cãi nhau mãi thì nước Mỹ sẽ ‘vỡ nợ!”

Tuy nhiên, đến ngày 2 Tháng Tám này mà hai đảng vẫn không thỏa hiệp được với nhau về mức trần công trái, thì quý vị cứ an tâm. Nước Mỹ sẽ không vỡ nợ đâu!

Sưu tầm

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Ngày hôm sau không bao giờ đến

Câu chuyện bắt đầu khi tôi 16 tuổi. Trong khi đang chơi bên ngoài trang trại của gia đình ở California, tôi gặp một người con trai. Ðó là một người bình thường như bao người khác, người trêu chọc bạn để rồi bạn đuổi theo và đấm cho anh ta một trận. Sau lần gặp gỡ đầu tiên đó, chúng tôi tiếp tục gặp nhau và trêu chọc lẫn nhau. Nhưng việc trêu chọc chỉ diễn ra một lúc, rồi chúng tôi thường đứng nói chuyện ở hàng rào. Tôi có thể kể với anh mọi bí mật của mình. Anh chỉ yên lặng lắng nghe và tôi nhận thấy anh thật dễ gần.

Ở trường chúng tôi đều có những mối quan hệ riêng, nhưng khi về nhà chúng tôi thường kể cho nhau nghe mọi chuyện. Một hôm tôi kể với anh cái gã mà tôi thích đã làm cho trái tim tôi tan nát. Anh an ủi tôi và bảo rồi mọi chuyện sẽ qua. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc vì có một người bạn thực sự hiểu mình. Có điều gì đó ở anh khiến tôi rất thích, tôi lại cho rằng đây chỉ là cảm giác.

Trong những năm trung học, chúng tôi luôn bên nhau với tình bạn đơn thuần. Vào buổi lễ tốt nghiệp, tuy chúng tôi nhận đuợc bằng vào hai ngày khác nhau nhưng tôi rất muốn ở cạnh anh. Tối hôm đó khi mọi nguời đã về hết tôi đến nhà anh, nói rằng tôi rất muốn gặp anh. Ðó quả là một cơ hội lớn, nhưng tất cả những gì tôi có thể làm chỉ là ngồi bên cạnh anh ngắm sao trời và cùng bàn về những dự định của hai đứa. Anh nói anh muốn lấy vợ sớm để ổn định cuộc sống, rằng anh muốn trở thành người giàu có, thành đạt. Tôi về nhà với nỗi ân hận vì đã không thổ lộ cho anh biết tình cảm của mình. Tôi muốn ngỏ lời yêu anh nhưng lại quá nhút nhát và sợ sệt. Tôi để những cơ hội ấy qua đi và tự nhủ sẽ nói cho anh ấy vào một ngày nào đó.

Trong những năm học đại học, tôi luôn muốn thổ lộ cùng anh nhưng luôn có nhiều nguời xung quanh anh. Sau khi ra truờng anh tìm việc làm ở New York. Tôi mừng cho anh nhưng cũng cảm thấy buồn vì chưa nói được gì với anh. Nhưng làm sao tôi có thể nói ra điều đó được, khi mà anh đang chuẩn bị ra đi. Tôi giữ kín điều đó cho riêng mình và nhìn anh bước lên máy bay. Tôi đã khóc rất nhiều và cảm thấy rất buồn khi không nói được những điều trong trái tim mình. Sau đó tôi được nhận vào làm thư ký, rồi làm cho một nhà phân tích máy tính. Tôi rất tự hào về những gì mình đạt đuợc. Cho đến một ngày tôi nhận được một bức thư có kèm thiệp mời mừng đám cuới. Ðó là của anh.


Tôi đến dự đám cưới một tháng sau đó. Ðám cưới thật lớn được tổ chức ở một nhà thờ và chiêu đãi ở một khách sạn lớn. Tôi gặp cô dâu và cả anh nữa, và tôi nhận ra rằng mình vẫn rất yêu anh. Tôi đã tự kiềm chế để không làm hỏng ngày vui của anh. Tôi cố gắng tỏ ra vui vẻ khi nhìn thấy anh bên cô ấy để che giấu đi những giọt lệ đang tuôn rơi trong lòng tôi. Tôi rời New York và cho rằng mình đã hành động đúng. Khi tôi lên máy bay, anh đi tiễn và nói rằng anh rất vui khi gặp lại tôi. Tôi về nhà cố quên đi mọi chuyện đã xảy ra ở New York vì hiểu rằng mình không thể làm khác. Một năm qua, chúng tôi vẫn trao đổi thư từ cho nhau và kể cho nhau nghe mọi chuyện. Rồi một thời gian dài anh không viết thư cho tôi. Tôi bắt đầu lo lắng vì tôi đã viết đến 6 bức thư. Cho đến khi tôi mất hết hy vọng, tôi nhận đuợc lời nhắn: “Hãy gặp anh ở hàng rào nơi chúng ta vẫn trò chuyện trước đây”. Tôi đến và gặp lại anh. Anh nói rằng anh đã vui vẻ trở lại, quên đi mọi chuyện rắc rối từ cuộc ly dị. Tôi càng yêu anh hơn nhưng vẫn không thể nói ra mối tình ấp ủ bấy lâu. Khi anh quay lại New York, tôi đã khóc rất nhiều. Tôi không muốn nhìn thấy anh ra đi. Anh hứa sẽ đến thăm tôi ngay khi có thể.

Rồi một ngày anh không đến thăm tôi như đã hẹn. Tôi đoán rằng có lẽ anh rất bận. Chuỗi ngày chờ dợi kéo dài cho đến khi tôi đã quên đi điều đó thì nhận được một cuộc điện thoại từ luật sư của anh ở New York. Ông ấy cho tôi biết anh đã mất trong một tai nạn trên đường ra sân bay. Trái tim tôi dường như vỡ vụn và tôi thực sự bị sốc. Bây giờ thì tôi đã hiểu tại sao anh không đến như đã hẹn. Tôi đã khóc, những giọt nước mắt của sự mất mát và đau đớn đến khôn cùng.

Tôi tự hỏi: “Tại sao điều đó lại xảy đến với một người tốt như anh?”. Tôi thu dọn công việc đến New York để nghe đọc di chúc của anh. Mọi thứ đã được chuyển về cho gia dình và người vợ cũ của anh. Tôi gặp lại cô ấy. Cô kể cho tôi nghe về tình trạng của anh, rằng anh luôn buồn cho dù cô ấy đã làm mọi cách cũng không thể nào khiến cho anh hạnh phúc được như hôm gặp lại tôi ở đám cưới của họ. Người ta trao lại cho tôi quyển nhật ký của anh. Nó được bắt dầu từ ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Anh viết rằng anh rất yêu tôi nhưng vì quá nhút nhát mà không dám nói ra điều đó. Ðó là lý do tại sao anh im lặng và thích lắng nghe tôi. Anh luôn yêu tôi kể cả khi đến New York và kết hôn với người khác. Ðối với anh quãng thời gian hạnh phúc nhất là khi ở bên tôi và được nhảy với tôi trong đám cưới. Anh đã tưởng tượng rằng đó là đám cưới của chúng tôi và anh đã rất đau khổ khi không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc ly hôn. Anh viết rằng anh rất hạnh phúc khi nhận được thư của tôi. Và cuốn nhật ký kết với dòng chữ: “Hôm nay, nhất định tôi sẽ nói với cô ấy rằng tôi rất yêu cô ấy”. Ðó chính là ngày mà anh bỏ tôi ra đi vĩnh viễn – ngày mà tôi sẽ biết được tình yêu từ sâu thẳm trái tim anh dành cho tôi.


(Sưu tầm)